Kỷ luật đối với Viên chức trong biên chế

 * Văn bản pháp quy:
   
   Việc xem xét xử lý kỷ luật đối với viên chức trong biên chế được thực hiện căn cứ vào các văn bản sau:

1. Căn cứ Luật Viên chức Luật viên chức ngày 15 tháng 11 năm 2010

2. Nghị định số 27/2012/NĐ-CP, ngày 06-04-2012 của Chính phủ Quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức

3. Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 04 năm 2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức và các văn bản có liên quan.

4. Các văn bản khác có liên quan.

 

I. CÁC HÌNH THỨC KỶ LUẬT

Điều 9 (Nghị định 27/2012/NĐ-CP)

  1) Viên chức không giữ chức vụ quản lý nếu có hành vi vi phạm pháp luật, tùy theo mức độ vi phạm bị áp dụng một trong các hình thức kỷ luật sau:

a) Khiển trách;

b) Cảnh cáo;

c) Buộc thôi việc.

2) Viên chức quản lý nếu có hành vi vi phạm pháp luật, tùy theo mức độ vi phạm bị áp dụng một trong các hình thức kỷ luật sau:

a) Khiển trách;

b) Cảnh cáo;

c) Cách chức;

d) Buộc thôi việc.


     2. Điều 10  Khiển trách (Nghị định 27/2012/NĐ-CP)         

Hình thức kỷ luật khiển trách áp dụng đối với viên chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:

1) Vi phạm các quy định, nội quy, quy chế làm việc của đơn vị sự nghiệp công lập đã được người có thẩm quyền nhắc nhở bằng văn bản;

2) Không tuân thủ quy trình, quy định chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp, đã được người có thẩm quyền nhắc nhở bằng văn bản;

3) Không chấp hành sự phân công công tác của người có thẩm quyền hoặc không thực hiện công việc, nhiệm vụ đã cam kết trong hợp đồng làm việc mà không có lý do chính đáng;

4) Có thái độ hách dịch, cửa quyền hoặc gây khó khăn, phiền hà đối với nhân dân trong quá trình thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao;

5) Gây mất đoàn kết trong đơn vị;

6) Tự ý nghỉ việc, tổng số từ 03 đến dưới 05 ngày làm việc trong một tháng được tính trong tháng dương lịch hoặc từ 03 đến dưới 05 ngày làm việc liên tiếp, mà không có lý do chính đáng;

7. Sử dụng tài sản của đơn vị sự nghiệp công lập và của nhân dân trái với quy định của pháp luật.

8. Vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn xã hội và các quy định khác của pháp luật liên quan đến viên chức.

  II. PHÂN CẤP VỀ XỬ LÝ KỶ LUẬT
         Cụ thể đối với cán bộ, công chức công tác ở các trường, viện... trực thuộc Bộ:
             1. Công chức ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương, sau khi Hội đồng kỷ luật xem xét, trình Bộ trưởng quyết định và gửi văn bản báo cáo Ban Tổ chức-Cán bộ Chính phủ để theo dõi.
             2. Công chức ngạch chuyên viên chính và tương đương, sau khi Hội đồng kỷ luật xem xét, trình Bộ trưởng ra quyết định kỷ luật.
             3. Công chức ngạch chuyên viên và tương đương thực hiện nh sau:
Sau khi Hội đồng kỷ luật xem xét thì Hiệu trưởng ra quyết định kỷ luật. Trường hợp bị xử lý hình thức kỷ luật từ hạ ngạch trở lên thì sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Vụ Tổ chức cán bộ thì Hiệu trưởng mới ra quyết định kỷ luật.
             4. Công chức ngạch cán sự và tương đương trở xuống: sau khi Hội đồng kỷ luật xem xét thì Hiệu trưởng ra quyết định kỷ luật
             5. Việc xử lý kỷ luật bằng hình thức cách chức do Hội đồng kỷ luật xem xét và trình cấp có thẩm quyền bổ nhiệm chức vụ đó để ra quyết định kỷ luật.
             6. Trường hợp ý kiến của Hội đồng kỷ luật khác với ý kiến của người ra quyết định (hoặc cơ quian thỏa thuận) mà sau khi thảo luận không thống nhất được thì người ra quyết định (hoặc cơ quan thỏa thuận) quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
             7. Đối với công chức ngạch thanh tra viên cao cấp (cấp 3) nếu bị hình thức kỷ luật từ hạ ngạch trở lên thì Bộ trưởng, thủ twởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung wơng báo cáo về Ban Tổ chức-Cán bộ Chính phủ để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.

  III. MỘT SỐ NGUYÊN TẮC KHI XỬ LÝ KỶ LUẬT
           1. Đối với mỗi hành vi vi phạm kỷ luật chỉ bị xử lý một hình thức kỷ luật. Khi cùng một lúc, công chức có nhiều hành vi vi phạm kỷ luật thì bị xử lý kỷ luật về từng hành vi và chịu hình thức kỷ luật cao hơn một mức so với hình thức kỷ luật tơng ứng với hành vi vi phạm nặng nhất. Quy định này được áp dụng đối với trường hợp công chức có nhiều hành vi vi phạm mà mỗi hành vi bị xử lý theo cùng một hình thức kỷ luật.
           2. Cấm mọi hành vi xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm của công chức khi xử lý vi phạm kỷ luật;
           3. Cấm áp dụng biện pháp phạt tiền, cúp lương thay cho hình thức kỷ luật;
           4. Cha xử lý kỷ luật đối với công chức trong các trường hợp sau đây:
               a) Đang trong thời gian nghỉ hàng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ phép được thủ trưởng cơ quan cho phép;
               b) Đang điều trị tại các bệnh viện theo quy định của thầy thuốc;
               c) Đang bị tạm giam, đang bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác nh đa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính;
               d) Phụ nữ đang trong thời gian nghỉ thai sản.
           5. Không áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức khi đang có thai, nuôi con dới 12 tháng tuổi.
           6. Khi hết "thời gian cha xử lý kỷ luật" đối với công chức quy định tại điểm 4 Điều 9 Nghị định số 97/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý và sử dụng công chức phải thông báo cho công chức biết và tiến hành xem xét, xử lý kỷ luật theo quy định.
         7. Việc tạm thời đình chỉ công tác của công chức cần xem xét thận trọng, chỉ tạm đình chỉ công tác khi thấy nếu để công chức tiếp tục làm việc có thể gây tác hại hoặc cản trở điều tra kết luận sự việc.
         8. Công chức trong thời gian tạm đình chỉ công tác được tạm ứng 50% tiền lương và các khoản phụ cấp (nếu có) ở mức lương tại thời điểm trớc khi bị đình chỉ công tác được thực hiện nh sau:
             a) Sau khi cơ quan, tổ chức, đơn vị xem xét nếu công chức không bị xử lý kỷ luật thì được truy lĩnh phần tiền lương và các khoản phụ cấp (nếu có) còn lại. Thời gian tạm đình chỉ công tác được tính là thời gian công tác để thực hiện chế độ.
             b) Trường hợp công chức bị xử lý kỷ luật thì không được truy lĩnh phần tiền lương và các khoản phụ cấp (nếu có) còn lại. Thời gian tạm đình chỉ công tác và thời gian tính đến khi có quyết định kỷ luật công chức được tính là thời gian công tác để thực hiện chế độ nhưng không được tính thời gian để nâng bậc.
         9. Trong thời gian bị bắt và tạm giam công chức được tạm ứng 50% tiền lương và các khoản phụ cấp (nếu có) ở mức lương tại thời điểm trớc khi bị bắt và tạm giam. Sau khi toà án xem xét nếu công chức không phạm tội và không bị xử lý hành chính thì được truy lĩnh phần tiền lương và các khoản phụ cấp (nếu có) còn lại, thời gian bị bắt và tạm giam được tính là thời gian công tác để thực hiện chế độ. Nếu bị xử lý kỷ luật thì thực hiện nh quy định tại điểm III.3b) nêu trên.
Trường hợp công chức phạm tội bị toà án phạt tù án treo hoặc cải tạo không giam giữ, quản chế thì trong thời gian bị bắt và tạm giam công chức được tạm ứng 50% tiền lương và các khoản phụ cấp (nếu có), không được truy lĩnh phần tiền lương và các khoản phụ cấp (nếu có) còn lại. Thời gian bị bắt và tạm giam không được tính là thời gian công tác để thực hiện chế độ.
         10. Ngoài những trường hợp có thể bị buộc thôi việc quy định tại điểm 7 Điều 12 của Nghị định 97/1998/NĐ-CP thì hội đồng kỷ luật xem xét kiến nghị buộc thôi việc đối với công chức tự ý bỏ việc 7 ngày trong 1 tháng hoặc 20 ngày trong 1 năm (cộng dồn) mà không có lý do chính đáng.
Công chức phạm tội bị toà án phạt tù mà không được hởng án treo kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì đơng nhiên buộc thôi việc.
         11. Hình thức hạ ngạch thực hiện theo nguyên tắc sau:
              a) Hạ từ ngạch chuyên môn công chức đang giữ xuống ngạch thấp hơn liền kề và chuyển xếp ở hệ số lươngcủa ngạch bị hạ xuống tơng đơng với hệ số lương của ngạch được hởng trớc khi bị xử lý kỷ luật.
             b) Trường hợp công chức đang giữ ở ngạch thấp nhất của bảng lương hoặc ngành chuyên môn không có ngạch thấp hơn nên không thực hiện việc hạ ngạch được thì thực hiện hình thức hạ tối thiểu hai bậc lương.
       12. Hình thức hạ bậc lương thực hiện theo nguyên tắc sau :
           a) Hạ từ bậc của ngạch chuyên môn công chức đang giữ xuống bậc thấp hơn liền kề trong ngạch đó.
           b) Trường hợp công chức đang giữ hệ số lương ở bậc 1 của ngạch chuyên môn thì thực hiện việc kéo dài thời gian nâng bậc thêm một thâm niên nâng bậc của ngạch, không kể thời gian quy định tại điểm 2 Điều 6 của Nghị định số 97/1998/NĐ-CP.

IV. THỜI HIỆU VÀ THỜI HẠN KỶ LUẬT
         1. Thời hiệu để xử lý vi phạm kỷ luật tối đa 3 tháng kể từ khi phát hiện công chức vi phạm. Trường hợp việc vi phạm của công chức có nhiều tình tiết phức tạp cần có thời gian để điều tra xác minh thì có thể kéo dài nhng thời hiệu không quá 6 tháng.
          2. Kể từ ngày có quyết định kỷ luật, sau 12 tháng, nếu công chức không tái phạm và không có những hành vi vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì bộ phận phụ trách nhân sự của cơ quan báo cáo người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra quyết định chấm dứt hiệu lực kỷ luật.
Sau khi có quyết định chấm dứt hiệu lực kỷ luật đối với công chức bị hạ ngach, hạ bậc lương thì không nhất thiết phải phục hồi ngạch và bậc lương cũ; việc xem xét công chức có trở về ngạch cũ, bậc lương cũ hay không là do tập thể lãnh đạo cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý công chức xem xét quyết định từng trường hợp cụ thể. Trường hợp công chức bị cách chức thì việc bổ nhiệm lại được thực hiện theo quy định về quản lý cán bộ, công chức của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Nhà nước.